Thứ Tư, Tháng 9 16, 2026
Trang chủDi Tích Thắng CảnhChùaChùa Dâu Bắc Ninh: “Đệ nhất cổ tự trời Nam”

Chùa Dâu Bắc Ninh: “Đệ nhất cổ tự trời Nam”

Chùa Dâu Bắc Ninh được xem là cái nôi của Phật giáo Việt Nam và là địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng bậc nhất miền Bắc. Với lịch sử hơn 1.800 năm, chùa Dâu Bắc Ninh gây ấn tượng bởi kiến trúc cổ kính, huyền tích kỳ thú và những giá trị văn hóa đặc biệt còn lưu giữ đến ngày nay.

1. Giới thiệu về chùa Dâu

1.1. Địa chỉ chùa Dâu ở đâu Bắc Ninh? 

Chùa Dâu tọa lạc tại phường Trí Quả, tỉnh Bắc Ninh (địa chỉ cũ: phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Chùa còn được biết đến với các tên gọi như: chùa Cả, Pháp Vân tự, Cổ Châu tự và Diên Ứng tự. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, gắn liền với quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo từ thế kỷ thứ II. 

Chùa mang giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và kiến trúc nghệ thuật. Với vai trò là trung tâm Phật giáo cổ đại tại vùng Luy Lâu, chùa Dâu được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt vào năm 2013.

Di tích chùa Dâu là địa điểm du lịch tâm linh Bắc Ninh nổi tiếng bậc nhất miền Bắc (Ảnh: Sưu tầm)

1.2. Chùa Dâu thờ ai?

Chùa Dâu là ngôi chùa Cả trong hệ thống bốn chùa thờ Tứ Pháp của vùng Kinh Bắc. Chùa Dâu thờ thần Mây (Pháp Vân), trong khi ba ngôi chùa còn lại lần lượt thờ thần Mưa (Pháp Vũ) tại chùa Thành Đạo, thần Sấm (Pháp Lôi) tại chùa Phi Tướng và thần Chớp (Pháp Điện) tại chùa Phương Quan. 

Tứ Pháp là biểu tượng của các lực lượng tự nhiên, gắn liền với tín ngưỡng dân gian của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Ngoài ra, chùa Dâu còn thờ Đức Thạnh Quang, biểu tượng của thần Siva trong Ấn Độ giáo, phản ánh sự giao thoa văn hóa sâu sắc.

Tượng Pháp Vân chùa Dâu (Ảnh: Sưu tầm)

1.3. Lịch sử chùa Dâu

Chùa Dâu có từ bao giờ? Theo các tài liệu và thư tịch cổ, chùa Dâu được xây dựng vào khoảng thế kỷ I – II sau Công nguyên, khi Phật giáo bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Thời Bắc thuộc, chùa Dâu từng là nơi tu tập, truyền bá Phật giáo của nhiều cao tăng như: Khâu Đà La, Mâu Tử, Tì-ni-đa-lưu-chi…

Đến thời Lý, Trần (thế kỷ XI – XIV), khi Phật giáo trở thành quốc giáo, chùa Dâu được triều đình quan tâm trùng tu. Đặc biệt, năm 1072 và 1703, tượng Pháp Vân của chùa được rước về kinh thành để cầu tạnh mưa, chứng tỏ vị thế linh thiêng của chùa. Năm 1313, dưới thời vua Trần Anh Tông, chùa Dâu được đại trùng tu bởi trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, tương truyền có “tháp 9 tầng, cầu 9 nhịp, chùa trăm gian”.

Đến năm 1752, chùa Dâu chính thức được ghi lại trong văn bản chữ với hai bộ sách: Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh và Hiến Cổ Châu Phật tổ nghi do thiền sư Tính Mộ và các đệ tử biên soạn. Các tài liệu này không chỉ ghi lại lịch sử xây dựng chùa, mà còn khẳng định vai trò văn hóa – tín ngưỡng sâu sắc trong đời sống người Việt. Trải qua nhiều biến động, chùa Dâu vẫn giữ vị trí trung tâm Phật giáo vùng Kinh Bắc và được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt vào năm 2013.

Hình ảnh của chùa Dâu trước đây (Ảnh: Sưu tầm)

1.4. Sự tích chùa Dâu Bắc Ninh

Chùa Dâu Bắc Ninh gắn liền với truyền thuyết Man Nương – một cô gái làng Mãn Xá hiền lành, theo học đạo Phật với thiền sư Khâu Đà La. Một đêm, Man Nương ngủ quên, thiền sư bước qua khiến cô mang thai. Sau 20 tháng, vào mùng 8/4, cô sinh một bé gái và mang đến chùa giao lại cho thiền sư. Thiền sư dùng cây tầm xích gõ vào cây dâu, cây tách ra, ông đặt đứa bé vào rồi cây tự khép lại.

Về sau, cây dâu bị bão cuốn trôi, trôi về Luy Lâu. Quan Sỹ Nhiếp định vớt lên dựng điện nhưng không nhấc nổi. Man Nương buộc dải yếm gọi thì cây nổi lên. Từ cây dâu đó, Sỹ Nhiếp cho tạc tượng Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) để thờ. 

Trong thân cây còn có khối đá sáng kỳ lạ, gọi là Thạch Quang Phật, hiện vẫn được thờ tại chùa Dâu. Huyền tích này thể hiện sự hòa quyện giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tạo nên hệ thống thờ Tứ Pháp độc đáo vùng Kinh Bắc.

Văn khấn Chùa Dâu

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

  • Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
  • Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
  • Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.
  • Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

Hưởng tử con là…

Ngụ tại…

Hôm nay là ngày … tháng … năm ….

Hương tử con đến Chùa Dâu, thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giảm, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Theo: Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam

RELATED ARTICLES

Bài viết phổ biến